Latest Products

Căn nhà ma Số 217 Phố Tôn Đức Thắng

Detail
Căn nhà mặt tiền số 217 phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, Hà Nội hoang tàn, mục nát giữa phố thị sầm uất tấp nập đã hơn mười năm nay. Ngôi nhà có kiến trúc khá đơn giản, gồm hai tầng, tầng một có hai phòng, tầng hai rộng rãi hơn nhưng toàn màu u ám với vết sơn vàng bong tróc loang lổ, khắp căn nhà sặc mùi ẩm mốc, hôi hám.

Chiếc cửa cuốn ở tầng một quanh năm ngày tháng nằm bất động, ngôi nhà được ví như mặt trái của không khí tấp nập xe cộ và bụi đường Hà Nội. Khi tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử của ngôi nhà, nhóm phóng viên không nhận được nhiều thông tin từ những người dân sống xung quanh.

Chủ yếu, mọi người đều cho rằng, căn nhà trước đây đã từng là nơi tự vẫn của chính gia chủ. Bởi lẽ, khi xây dựng căn nhà, đã có rất nhiều xác chết nhưng lại không được làm lễ di chuyển đi, chính vì thế việc gia chủ tự vẫn cũng được đồn là từ nguyên do đó mà ra. Theo như lời phản ánh của người dân sống gần khu vực ấy, nhiều đêm có nghe tiếng gió hú, sột soạt thì thầm như người nói chuyện trong nhà, có ngủ cũng không được yên giấc vì những âm thanh rợn người vang lên.


Đồn đoán là như vậy, nhưng việc ngôi nhà mặt tiền bỏ hoang đã vô chủ mười năm thì phải chăng, có điều gì đó liên quan đến tâm linh mà người trần mắt thịt như chúng ta vẫn không thể giải thích, chỉ biết rằng bản thân cần tránh đi cho yên ổn.

Ngôi Nhà Ma - 300 Kim Mã

Detail
Ngôi nhà khá bề thế, xây theo kiến trúc Đông Âu, nhưng lại bị bỏ hoang một thời gian khá dài. Ba khung cửa sắt lớn hướng về phía đường Kim Mã đã gỉ sét và luôn khóa trái xộc xệch, khiến nơi đây càng thêm bí ẩn.

Có người còn vạch rõ vị trí ngôi nhà “ma ám” trên ảnh vệ tinh kèm theo lời bình luận “Nhà cực xấu về mặt phong thủy. Ngay mặt tiền là một cái hiên và cái cột đỡ đâm thẳng vào trong, giống như chiếc quan tài. Cách thiết kế hoàn toàn bế khí, lại do xung sát khí từ mái hiên che phía trước đâm vào. Bởi vậy, con đường càng tấp nập thì khí càng tụ và càng tạo ra âm khí vượng dần theo thời gian”.

Theo một số người dân sống gần khu vực, nơi đây vốn là bệnh viện, nhưng do quá nhiều bệnh nhân mất mạng khi đến đây, nên bệnh viện bị dẹp bỏ, khu đất để hoang. Một số cụ già sống trên đường Đội Cấn cho hay, nơi đây vốn là bãi tha ma, nhưng khi xây xong, chủ nhà không thờ cúng nên bị các oan hồn quấy nhiễu, xua đuổi.

“Giờ thì đỡ hơn, chứ dạo trước chúng tôi tập thể dục buổi sớm qua đây, những đốm sáng như ma trơi khiến ai cũng bạt vía, nên từ đó chúng tôi cũng chẳng dám bén mảng đến lúc tối nữa. Những người quanh khu vực đó đều biết có nguời từng chết trước cổng ngôi nhà. Mà không phải chết ngày đâu, nửa đêm bị “vật” chết, sáng ra mới thấy xác. Không ma thì ai làm?”, cụ Thịnh, chủ hàng nước trên phố Đội Cấn, tiết lộ.


Một đám khách hiếu kỳ sau khi nghe cụ nói vậy, tuy có chút run sợ nhưng cố trấn tĩnh dạo quanh khu nhà. Họ men theo hàng rào, ló mắt tìm kiếm một âm thanh gì phát ra từ phía sau cánh cửa đóng hờ của ngôi nhà. Rồi “xỏ..ẻng,... bịch...”. Cô bạn trong nhóm giật bước ngã nhào bật khỏi hàng rào. Ai nấy đều thấy bủn rủn chân tay. Lúc đó đã là 9h tối, cô bạn giục giã cả nhóm ra về.

Hồi tháng 2/2009, một vụ án mạng nghiêm trọng xảy ra, hậu quả làm một người đàn ông chết gục trong chiếc xe Lexus trong tình trạng động mạch cổ bị cắt, người đàn ông đó được xác định tên là Chính, chủ nhân của chiếc xe. Song điều lạ lùng, theo cơ quan điều tra, anh Chính bị sát hại trên đường Đội Cấn, nhưng sáng ra, chiếc xe và nạn nhân lại nằm chênh vênh trên vỉa hè, sát cổng tòa nhà...

Biệt thự ma bỏ hoang đèo Frenn Đà Lạt

Detail
Bất cứ ai tới Đà Lạt, đi ngang đèo Prenn đều có thể thấy hai căn biệt thự kiểu Pháp cổ bị bỏ hoang nằm ẩn khuất sau những tán cây. Nhiều lời đồn đoán, hai căn biệt thự này đều là những “ngôi nhà ma” thứ thiệt, gây hoang mang cho không ít du khách tới thăm phố hoa.


Theo những người già sống lâu năm ở Đà Lạt thì ngôi biệt thự ma nằm ở đầu dốc Prenn được xây dựng vào năm 1912. Chủ nhân của ngôi biệt thự này là của một tên quan ba Pháp. Hắn nổi tiếng là một kẻ thích ăn chơi trác táng. Một đêm nọ, hắn vời một cô kỹ nữ rất đẹp đến. Trong cơn say, hắn muốn chiếm đoạt cô gái. Khi cô gái tìm cách chạy trốn, hắn rút súng chĩa vào cô. Cô gái gieo mình xuống lầu tự tử…


Tags: no keyword

Cuộc khai quật cả trăm hài cốt và hành trình hóa giải trận đồ trấn yểm của một pháp sư bí ẩn Hà thành

Detail
Những hình khắc bí ẩn

Như đã nói ở kỳ trước, khi nạo vét sông Sào Khê và khu Tràng An (Ninh Bình), tổ nạo vét gặp vô số điều kỳ lạ, khiến ai nấy phải dựng tóc gáy. Tuy nhiên, chỉ đến khi dàn máy móc tiến vào sát cửa hang Luồn, thì sự thực về trận pháp trấn yểm mới lộ rõ. Ông Nguyễn Văn Son, chủ khu du lịch Tràng An Cổ, cha đẻ của khu du lịch Tràng An kể: “Cả đời gắn bó với vùng đất Tràng An này, gặp không thiếu chuyện gì, nhưng ngẫm lại, tôi tin rằng anh linh các cụ đã dẫn dắt tôi từng bước, để khám phá những bí ẩn trong lòng đất Tràng An. Việc phát hiện ra trận đồ trấn yểm này không phải ngẫu nhiên, mà tôi tin rằng do các cụ sắp đặt”. Theo lời ông Son, khi phát hiện ra trận pháp, ông có cảm giác rất lạ, ông thấy mình phải có trách nhiệm để trông coi, giữ gìn long mạch thiêng này. Ông để lại dự án Tràng An cho người em, là ông Nguyễn Xuân Trường xây dựng, quản lý, ông về Tràng An Cổ, huyệt mạch quốc gia để xây dựng lại cơ nghiệp, nhằm bảo vệ trần đồ trấn yểm kỳ bí này.

Ngày đó, dự án nạo vét sông Sào Khê, khu Tràng An đã được nhà nước phê duyệt, tuy nhiên, chờ nhà nước giải ngân, rồi thủ tục hành chính phức tạp, nên hai anh em ông Son đã bỏ tiền làm trước. Dàn máy móc hút bùn tới 150 chiếc hoạt động ngày đêm, rồi tàu hút bùn hiện đại bậc nhất thế giới được đưa về Tràng An. Tuy nhiên, vô số điều kỳ dị xảy ra. Những máy móc đưa vào cửa hang Luồn đều trở nên vô dụng, tắt ngúm. Để tôi hiểu rõ về trận đồ trấn yểm, đích thân ông Son đã lấy thuyền chở tôi dọc sông Sào Khê, tiến về phía cửa hang Luồn.



Theo ông Son, sông Sào Khê khi xưa to, nước sâu, chứ không nhỏ và cạn nước như bây giờ. Mùa lũ, nước từ sông Đáy thốc vào, nước dâng cao chảy cuồn cuộn. Chỉ có con đường duy nhất vào Tràng An là đường thủy, trên sông Sào Khê, xuyên qua hang Luồn. Nơi đây bốn bề núi cao hiểm trở, dễ phòng thủ, khó tấn công, nên vua Đinh, rồi nhà Tiền Lê đã chọn đây làm nơi dựng nghiệp. Cửa hang Luồn là một công trình kỳ vĩ của tự nhiên. Mái hang khá thấp, nhiều chỗ bơi thuyền chạm đầu, tuy nhiên bề rộng thì tới 60 mét, đủ chỗ cho thuyền bè tấp nập ngược xuôi, mà không sợ tắc đường. Chèo thuyền đến cửa hang Luồn, ông Nguyễn Văn Son dừng thuyền, chỉ cho tôi xem những hình khắc khá nhỏ trên vách đá mái hang giữa sông. Ông Son kể, ngày xưa, vách đá này có nhiều chim làm tổ, ông cùng đám trẻ trong làng thường bơi dưới sông, bốc bùn ném trúng tổ chim, để chim non rơi xuống đem về nuôi. Ông đã phát hiện những hình khắc kỳ lạ đó, tuy nhiên, ông không biết là thứ gì. Khi việc nạo hút đoạn hang Luồn gặp nhiều sự cố, ông Son mới để ý đến những hình khắc này. Ông tìm lại sách cổ, nghiên cứu các hình khắc, thì thấy rằng, những hình khắc như trên vách đá thường được sử dụng trong các lễ trấn yểm, hoặc cầu siêu, giải oan của người xưa. Trong quá trình nghiên cứu, ông Son đã vô tình có được trong tay cuốn sách cổ của ông Phạm Văn Nghị, là nhà nho yêu nước thời Tự Đức. Ông này đã mô tả rất kỹ con sông Sào Khê và cửa hang Luồn. Theo đó, con sông Sào Khê thực tế tên là Tào Khê (đặt tên theo con sông Tào Khê nổi tiếng linh thiêng của Trung Quốc). Khê có nghĩa là con ngòi luồn lách qua khe núi. Theo mô tả của cuốn sách cổ trên, thì Sào Khê chính là Tiểu Hoàng Long (rồng nhỏ), còn sông Hoàng Long là Đại Hoàng Long (rồng lớn). Sông Sào Khê dẫn nước từ sông Đáy, luồn lách qua các hang động, núi đá, rồi đổ ra sông Hoàng Long. Cũng theo cuốn sách trên, cửa hang Luồn chính là long mạch quan trọng nhất của Tiểu Hoàng Long. Chính vì thế, khi chúa Trịnh Sâm về đây, đã cho lập bia và đề thơ trên vách đá, ngay cửa hang Luồn.

“Oan hồn quân sỹ” đưa một phó giám đốc ở Hà Nội về Tràng An tìm trận đồ trấn yểm

Detail
Mới đây, chị Nguyễn Thị Thu Hương - Giám đốc Trung tâm Truyền thông Tâm linh (cơ quan trực thuộc UIA), đã mời tôi về Ninh Bình, tham dự sự kiện Hội thảo quốc tế du lịch tâm linh diễn ra tại chùa Bái Đính. Khi xe chạy phăm phăm trên cao tốc, chị Hương mới tiết lộ rằng, nhân sự kiện này, tìm về đó, xem có gặp được cao nhân nào không. Câu chuyện cứ úp úp, mở mở, để rồi, mãi sau, tôi mới hiểu rằng, hóa ra, chị Hương cùng một nhân vật nữa trên xe, là Lê Thái Bình, tìm về Ninh Bình còn có mục đích khác. Ngày diễn ra sự kiện Hội thảo du lịch tâm linh cũng là ngày đẹp, là ngày linh khí hội tụ ở vùng đất Tràng An. Vào hội thảo trong chùa Bái Đính uy nghiêm dạo vài vòng, không tìm được nhân vật nào thực sự hiểu cặn kẽ phong thủy quốc gia, nên chúng tôi rời hội thảo, ngược ra Tràng An. Ở khu du lịch Tràng An có hai địa danh là Tràng An và Tràng An Cổ. Tràng An là khu vực mới được xây dựng, đẹp tráng lệ, thực là thiên đường dưới hạ giới. Khu vực khe núi này được đắp đập, trữ nước, các quả núi được đào thủng, tạo thành những dòng sông ngầm, du khách đi thuyền thưởng ngoạn cả ngày mới hết. Tràng An Cổ nằm cạnh đó, khá khiêm tốn, vắng khách hơn, nhưng đây mới thực sự là Tràng An. Người khai sinh ra cả hai khu du lịch nổi tiếng này chính là ông Nguyễn Văn Son, người con đất Tràng An. Ông khảo sát, thiết kế, rồi người em họ, là đại gia Nguyễn Xuân Trường xây dựng khu Tràng An mới, còn ông lui về làm ông chủ khu Tràng An Cổ. Tràng An Cổ đầy bí hiểm, đau thương, nơi ông xác định gắn bó cả đời. Chuyện về ông Son sẽ nói ở phần sau.

Lần về Tràng An cổ này, chị Nguyễn Thị Thu Hương, và anh Lê Thái Bình đã xem ngày kỹ lưỡng. Anh Lê Thái Bình sinh năm 1983. Chàng trai quê Hải Phòng này già dặn hơn tuổi rất nhiều. Hiện anh Bình là Phó Giám đốc Công ty Sao Phương Nam và chủ nhiệm Câu lạc bộ Thiền Việt. Anh Bình là thầy giáo dạy thiền, hướng dẫn hàng trăm người tập thiền để nâng cao sức khỏe, khám phá những bí ẩn của bộ não. Anh Bình tâm sự: “Tôi tốt nghiệp đại học, có trình độ hẳn hoi, không phải người u u mê mê tin vào những chuyện dị đoan, nhưng những thứ tôi trải qua, chứng kiến thì không thể nào dùng lý luận khoa học để bác bỏ được”. Câu chuyện anh Bình kể trên hành trình tìm về Tràng An cổ quả thực khiến tôi có cảm giác như lạc vào cõi u mê, như thể mình đang lạc vào không gian đầy sự mộng mị của thời Đinh, thời Lê xa xăm, tít tắp ngàn năm trước.

Cách đây 2 năm, Lê Thái Bình bỗng nhiên bị rơi vào trạng thái lạ, mà anh gọi là “cơ đày”. Anh Bình có những biểu hiện kỳ lạ, như thể bị vong nhập, hoặc nhìn thấy vong. Anh Bình thuật lại: “Kể ra thì bảo mê tín dị đoan, nhưng tôi đang là người bình thường, tâm lý ổn định, thể chất khỏe mạnh, thậm chí là lãnh đạo trẻ của một doanh nghiệp, thì không thể nói có đầu óc mê tín dị đoan, dễ dàng tin vào chuyện ma quỷ được. Trước đó, tôi không hề đi hầu đồng, hầu bóng, áp vong, nên không thể nói bộ não bị tổn thương. Nhưng đột nhiên, như có sự mách bảo, tôi cứ thế ra đền Ngọc Sơn (đền Ngọc Sơn trên hòn đảo giữa hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội), rồi múa may ở đó. Lúc tỉnh lại, thì lại tìm đường về nhà, không có biểu hiện gì nữa. Khi ra đền Ngọc Sơn, tôi thấy quân lính nhiều, người gãy tay, gãy chân, người cụt đầu, máu me. Thấy hiện tượng lạ, nhưng lúc tỉnh táo, tôi chưa tin ngay, mà phân tích rành rẽ. Tuy nhiên, sự việc này mỗi ngày càng xuất hiện nhiều hơn, buộc tôi phải tìm đến các thầy bà. Tuy nhiên, đi nhiều nơi, đến nhiều thầy, song họ không nhìn thấy gì, không xem được gì. Thế nhưng, điều lạ lùng, là nhiều thầy giỏi bảo nhìn vào trán tôi thấy hình cái giếng rất sâu, trong giếng có quyển sách, cái kiếm và ánh trăng lồng bên trong”.

Theo anh Lê Thái Bình, thời gian đó, cảm giác như có thế lực nào đó cứ thúc giục anh phải đi đâu đó, tìm gặp ai đó, mà bản thân anh cũng không hiểu được. Một lần, đang lang thang ngoài đường, gặp một người tầm 40 tuổi. Người này chặn anh Bình lại bảo rằng: “Em liên quan đến một ông tướng ngày xưa, em phải về Ninh Bình để tìm lại gốc gác của mình”. Anh này nói xong, rồi đột nhiên giật mình, nói giọng khác. Anh ta bảo rằng, anh không phải nhà tâm linh gì cả, chỉ là người bình thường. Những gì anh ta nói với anh Bình, bản thân anh ta cũng không hiểu được.



Suốt 3 ngày, kể từ khi gặp người đàn ông lạ, anh Bình không ngủ được, cứ bị điều gì đó thôi thúc, phải đi tìm nguồn gốc của mình. Cả 3 hôm ấy, đi dạy thiền cho các học viên, anh vẫn gặp chuyện lạ. Điều kỳ cục là một số học viên của anh cũng bảo rằng, khi rơi vào trạng thái vô thức, thấy quân lính lũ lưỡi kéo về, tiếng gươm đao loảng xoảng. 3 hôm sau ngày gặp người đàn ông lạ, anh cùng một đệ tử, là một cô gái, khá giỏi tâm linh lên đường về Ninh Bình. Chuyến về Ninh Bình khi đó khá vô định, đi theo sự thôi thúc, chứ không có chủ đích nào cả. Về đến một ngôi đình, rồi một ngôi đền ở Hoa Lư, chỉ mới đến cổng, cô đệ tử này đã bảo với anh Bình: “Sao toàn quân lính đứng hai bên đường thế kia”. Bản thân anh Bình khi đó cũng nhìn thấy quân lính đứng hai bên, cờ xí phấp phới, trống chiêng vang vọng, tuy nhiên, anh không kể, mà lắng nghe lời của cô đệ tử. Việc cả anh Bình và cô học viên nhìn thấy là khớp nhau, nên khó có thể nói đây là hiện tượng ảo giác.

Thấy quân lính đón mình như vị tướng, nên anh Bình biết phải làm gì. Anh cùng đệ tử đến chùa Bái Đính cổ để bái Phật, xin được chỉ dẫn. Lúc bái Phật, được truyền mấy câu thơ vào tai. Anh Bình chủ quan không ghi lại, nên lúc sau quên mất. Tuy nhiên, nội dung bài thơ chỉ anh phải đi về hướng Tràng An. Anh cùng đệ tử tiếp tục lên xe, kêu lái xe đi về hướng Tràng An. Khi xe chạy qua đường hầm xuyên núi thì thấy khắp hai bên đường, kéo dài lên tận đỉnh núi là quân lính, với giáo mác uy nghiêm, xếp hàng ngay ngắn, trùng trùng điệp điệp, như thể sắp ra trận. Đến khu vực Tràng An Cổ, như thể có thế lực vô hình, kéo anh vào, nên anh bảo lái xe rẽ vào cái cổng có dòng chữ “Tràng An Cổ” dưới chân núi. Vừa bước chân qua cổng, thì gặp ông Nguyễn Văn Son, người đàn ông tưởng như khắc khổ, nhưng vẫn toát lên dáng vẻ của một thi sĩ. Vừa gặp anh Bình, ông Son đã niềm nở bắt tay bảo: “Đúng là anh rồi. Đêm qua tôi nằm trằn trọc không ngủ được, cứ nhắm mắt là mơ thấy một người nào đó về tâm linh sẽ về gặp tôi. Chắc đúng là anh rồi”. Ông Son vừa nói xong, thì anh Bình bảo: “Ông ơi, ở đây có cái giếng nào sâu lắm, sâu không có đáy không ông?”. Ông Son gật đầu bảo có cái giếng rất sâu trên núi, gọi là giếng Trời.

Anh Bình cứ thế rảo bước phăm phăm, như thể có thế lực nào đó kéo đi. Vào đến ngôi đền thờ vua Đinh cùng các quân, tướng trên vách đá, anh Bình tự dưng khóc rống lên. Anh thấy linh hồn của mình chít khăn, đóng khố. Linh hồn bay lên, nhưng anh thì cứ đứng khóc. Đêm xuống, ông Son giữ lại ăn nghỉ, để xem có chuyện gì xảy ra tiếp. Bóng đêm xuống, ông Son bật hết điện ở khu Tràng An Cổ lên. Ánh điện chiếu xuống dòng Sào Khê lấp lánh. Đứng trên đền, nhìn xuống sông Sào Khê anh Bình thấy hàng ngàn quân lính khóc ai oán. Nhìn về phía hang Luồn, anh thấy trận pháp bày dưới sông rõ mồn một. Anh Bình nhớ lại: “Lúc tôi nhìn về hang Luồn, thì tự dưng nguyên thần của tôi bay đến, tìm cách phá trận pháp đó. Tuy nhiên, có người đến chặn và bảo: “Tướng quân không được vào đây. Đây là trận pháp trấn yểm, không được phá”. Khi người này ngăn chặn, thì nguyên thần của tôi lại trở về. Lúc nguyên thần bay đi, tôi nhìn rõ, nhưng toàn thân cứng đờ, không chuyển động được. Khi nguyên thần trở về với cơ thể, thì tôi trở lại bình thường, nhưng trong lòng thấy nỗi buồn tràn ngập tâm can, buồn vô hạn. Tôi tỉnh táo lại, thì thấy cô đệ tử khóc to lắm. Linh hồn một người lính đã nhập vào cô ấy bảo tôi mang họ Nguyễn, xưa là tướng quân, xưng là chủ tướng. “Người lính” ấy cứ khóc, kêu khổ lắm, đói lắm, phải ở đây làm lính, canh giữ long mạch đất nước. “Người lính” ấy còn bảo tôi đi tu hành bao năm, giờ mới quay lại, nhận lại tiền kiếp. “Người lính” còn bảo, khi nào có ấn tín của “chủ tướng”, tức tiền kiếp của tôi, thì họ mới về được”. Lúc ấy, tôi vỡ vạc ra nhiều điều, hiểu được tiền kiếp của mình. Suốt hai ngày, hai đêm, tôi ngồi đọc chú đại bi, hồi hướng cho quân lính, khao quân liên tục, tiền vàng rải nhiều lắm. Tôi cho phép quân lính về lại quê hương bản xứ, nhưng cấm không được quấy phá dương gian. Nếu không có chỗ dung thì quay lại với chúng tôi, tôi tu cái gì thì tu theo cái ấy. Xong việc, tôi đốt hết kinh. Sau khi thực hiện xong những việc tâm linh ấy, thì tôi gặp lại ông Son, bảo ông phải làm đàn tế thật to, để giúp các oan hồn nơi đây siêu thoát. Tôi sẽ hỗ trợ cùng ông Son làm việc ấy”.

Câu chuyện của anh chàng Lê Thái Bình quả thực quá kỳ dị, như thể câu chuyện ở một thế giới xa xăm nào đó. Tuy nhiên, khi gặp ông Son, ông bảo rằng, lần đầu tiên gặp Bình, ông đã có cảm giác rất lạ, như thể là người sẽ giải đáp cho ông nhiều điều khó hiểu ở Tràng An Cổ, nơi ông đã gắn bó, xây dựng nhiều năm nay, và gặp vô số điều lạ lùng, kỳ bí, mà bản thân ông không thể giải thích được. Những tiếng binh đao hàng đêm vẫn văng vẳng từ dưới sông. Những tiếng khóc ai oán của thiếu nữ. Những oan hồn vẫn đây đó, mà nhiều lúc rơi vào trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ, ông vẫn cảm nhận thấy được. Vô số điều kỳ lạ tập trung ở cửa hang Luồn, là điểm nhấn của khu du lịch Tràng An Cổ, là điểm nhấn của toàn bộ vùng đất Tràng An, mà ông chỉ có thể bó tay, không sao giải thích. Ông đã moi lên hàng đống xương người, ông đã lập cả một nghĩa địa để thờ cúng chu đáo. Nhưng, tại sao lại có nhiều xương đến vậy. Rồi còn hàng đống tiền cổ, hàng tạ cổ vật kỳ lạ. Còn xương hổ, xương voi nữa chứ. Những thứ đó, vì sao tập trung ở một địa điểm dưới dòng Sào Khê? Những câu hỏi bao năm nay không có lời giải, đã thêm một lần nữa, được chàng trai Lê Thái Bình gợi mở, khiến ông Nguyễn Văn Son càng tin tưởng hơn vào một huyệt mạch kỳ lạ, một trận đồ trấn yểm có thể nói là cực kỳ quan trọng từ cả ngàn năm trước.

Lần này, trở lại Tràng An Cổ, cùng cả chị Nguyễn Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm truyền thông Tâm Linh, chúng tôi được ông Nguyễn Văn Son đón tiếp chu đáo. Chúng tôi rẽ vào Tràng An Cổ, mà không hề báo trước với ông Son. Lê Thái Bình bảo rằng, cứ tự đi, tự đến, có nhân duyên thì gặp, không có nhân duyên, thì có gặp cũng không mang lại kết quả. Tràng An Cổ những ngày đông giá rét, khách tham quan vắng. Cả hai khu Tràng An đều chìm trong màn sương bàng bạc, buồn tẻ. Từ trên vách núi, tôi thấy con chim kỳ lạ, thân màu đen, có chút sọc đỏ, sọc trắng, cái mỏ to tướng như mỏ bồ nông đậu trên một chạc cây soi bóng xuống dòng Sào Khê. Tôi hỏi chị lái đò, rằng con chim gì mà lạ lùng thế. Chị lái đò nhìn theo hướng tay tôi chỉ, rồi rú lên ra vẻ kinh ngạc lắm. Hóa ra, đó là chim phượng hoàng đất, loài chim cực kỳ quý hiếm, tưởng như tuyệt chủng ở Việt Nam. Tuy nhiên, thi thoảng loài chim này vẫn xuất hiện ở khu vực Tràng An. Rất hiếm người ghi lại được hình ảnh loài chim này. Đồn rằng, phượng hoàng đất thường xuất hiện vào những dịp trọng đại, và chỉ có những người may mắn lắm mới được chiêm ngưỡng loài chim này. Khi chúng tôi đang bàn tán, thì con phượng hoàng đất nhào ra phía dòng Sào Khê, rồi vỗ cánh phành phạch bay mất hút vào trong núi.

Từ phía vách núi, nơi ngôi đền thờ Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc và ba quân tướng sĩ, phát ra tiếng đàn bầu não nuột. Cảnh mùa đông lạnh giá, vắng vẻ, thi thoảng chỉ có tiếng chim kêu, rừng núi âm u, nghe tiếng đàn bầu mà buồn. Chúng tôi hỏi ông Nguyễn Văn Son, thì chị lái đò bảo: “Trưa nay, ăn xong, bác Son gọi em đến bảo chiều nay sẽ có khách tâm linh đến. Bác dặn em ngồi đây đợi, rồi có gì chèo đò đưa khách đi. Mùa này không có khách thăm quan đâu. Chắc đúng là đoàn mình rồi”. Một lần nữa tôi kinh ngạc. Chẳng lẽ ông Son có khả năng dự báo, biết trước khách đến? Anh chàng Lê Thái Bình thì cho rằng chuyện đó rất bình thường. Khi đã có sự giao lưu của thần thức, thì sẽ được báo mộng. Chúng tôi đang leo đến lưng chừng núi, thì tiếng đàn bầu im bặt. Ông Nguyễn Văn Son, dáng cao, gầy, mái tóc vuốt ngược, vầng trán cao, dáng vẻ thi sĩ ra bắt tay. Trà nóng ông đã pha sẵn. Ông bảo, đêm trước không ngủ được, cứ nhắm mắt là thấy ba quân tướng sĩ, cờ xí rập rờn đón tướng quân. Lúc thì được báo mộng hôm nay sẽ có khách quan trọng đến. Vậy nên, cả ngày ông Son không đi đâu, không làm gì, chỉ ra quẩn vào quanh, hết gảy đàn, lại pha trà thưởng thức. Gặp lại anh chàng Lê Văn Bình, ông Son rất vui. Có thêm tôi và chị Thu Hương, ông Son hào hứng kể nhiều chuyện. Ông dẫn chúng tôi thăm quan một vòng khu Tràng An cổ. Đích thân ông chèo thuyền dọc sông Sào Khê, rồi kể tỉ mỉ, cặn kẽ từng thứ. Biết bao câu chuyện mà ông xới lên từ những trang sách, từ lời kể dân gian, từ những lớp sâu bùn đất mà ông đào bới, khai quật lên. Tôi có cảm giác, ông Son là nhà văn hóa, nhà sử học, nhà tâm linh, là một thi sĩ, với bộ óc dường như được khai sáng, chứ không phải là một ông nông dân, một ông trưởng thôn, ông chủ nhiệm hợp tác xã đóng gạch, ngói ở vùng đất này. Riêng Lê Văn Bình từ chối ngồi thuyền dưới dòng Sào Khê. Anh Bình bảo, anh sợ cảm giác nhìn thấy hình ảnh quân lính đói khát, bi thương, nên anh chỉ luẩn quẩn ở chỗ nhà khách, hoặc đi lại ngó nghiêng dưới chân núi.

Đi một vòng dọc sông Sào Khê, vào hang Luồn, chúng tôi trở ra. Anh Lê Thái Bình yêu cầu ông Son dẫn anh cùng chúng tôi thắp hương ở đền, rồi lên giếng trời. Cái giếng đó nằm trên lưng chừng núi, nhìn nghiêng xuống hang Luồn, nơi có dòng Sào Khê. Tôi nhặt hòn đá nhỏ, ném xuống, nhưng chẳng thấy tiếng dội lại. Ông Son bảo, giếng này không đáy. Ông đã nhiều lần thử thám hiểm, ròng dây trèo xuống, đeo cả bình ô xi, nhưng không đến đáy. Thế nên, người Tràng An mới gọi là giếng Trời. Có truyền thuyết về cuốn sách và thanh kiếm trong giếng, đúng như lời những ông thầy tướng nói vào thời điểm anh Bình bị “cơ đày”. Thế nhưng, anh Lê Thái Bình vừa đến cửa giếng Trời, đã quay ra, không dám đến gần. Anh Bình bảo rằng, âm khí ở giếng nhiều quá. Oan hồn tụ ở giếng này quá nhiều, nên những người nhạy cảm với khí âm không đến gần được.

Sau khi tham quan một vòng, anh Bình trình bày với ông Son rằng, lần này về Tràng An, anh có cảm giác nhẹ nhõm hơn lần trước. Nỗi oan trái cũng ít hơn, các oan hồn vất vưởng của tướng sĩ cũng không còn nhiều như lần trước nữa. Ông Son bảo rằng, cảm nhận của anh Bình là hoàn toàn chính xác. Sau lần anh Bình về đây, thì có một ông thầy bí ẩn, theo phái Mật Tông, đã cùng cả trăm đệ tử từ Hà Nội tìm về, lập đàn giải oan cho các oan hồn. Ông thầy bí ẩn này đã thực hiện lễ giải oan hai lần, nên việc các oan hồn vất vưởng ở Tràng An, cũng như trận pháp dưới dòng Sào Khê đã được giải phần nào. Ông Nguyễn Văn Son bảo: “Hai năm trước cậu về đây khóc lóc ầm ĩ, rồi yêu cầu tôi làm đàn tế giải oan, tuy nhiên, tôi chưa tin lắm, với lại điều kiện chưa cho phép để làm đàn tế lớn. Một thời gian sau, thì thầy Hiếu cùng đoàn đệ tử về đây. Ông ấy bảo đây là huyệt mạch quốc gia, có một trận pháp trấn yểm quan trọng. Ông ấy tự làm đàn tế giải oan cho các oan hồn những hai lần. Có lẽ, đàn tế giải oan của ông ấy có tác dụng, nên lần này cậu cảm nhận khác hơn”.

Trinh nữ chết thảm, rắn có mào và hàng trăm bộ xương trong trận đồ khiến máy móc hiện đại trở nên vô dụng

Detail
Thần xà có mào

Ông Nguyễn Văn Son, chủ khu du lịch Tràng An Cổ và cũng là cha đẻ của khu du lịch Tràng An (Ninh Bình) nổi tiếng Việt Nam bây giờ tin rằng, chính tiền nhân đã dẫn dắt ông gặp hết chuyện lạ này đến chuyện lạ khác, để rồi phát hiện ra trận đồ trấn yểm, mà theo ông, còn phức tạp, kinh hoàng hơn trận đồ trấn yểm sông Tô Lịch, từng gây ầm ĩ cả nước nhiều năm trời. Cơ duyên đầu tiên tác động vào tâm trí của ông, là việc gặp một người đàn bà bí ẩn vào năm 2002. Bà này tên là Nhàn, nhà ở cách Tràng An chỉ 5 km. Đợt đó, có mấy bà đi lễ đền Trần, gặp ông Son, bà bảo: “Ơ, đúng là anh rồi. Anh là con cháu tướng Nguyễn Bặc đấy. Các cụ chết ở đây thảm lắm. Các cụ bảo anh được chọn để khai sáng khu vực này. Đây là khu vực quan trọng của quốc gia, nên anh làm gì cũng phải đến nơi đến chốn vào nhé”. Nghe bà này nói thế, ông Son còn mắng: “Bà này lắm chuyện, định mượn thuyền thì cứ mượn, lại còn phải nói vớ vẩn”. Rồi bà cụ này mượn thuyền chèo dọc sông Sào Khê, đi tìm đền Trần.

Trinh nữ chết thảm, rắn có mào và hàng trăm bộ xương trong trận đồ khiến máy móc hiện đại trở nên vô dụng


Chuyện ấy rồi ông Son cũng quên. Đến năm 2004, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vào Tràng An, tìm gặp ông Son, chứ không phải ông mời vào. Bích Hằng gặp ông bảo rằng, chị rất trăn trở với vùng đất này, bởi các oan hồn ở đây nhiều quá, nỗi oan chồng chồng chất chất. Ông Son bảo: “Tôi cảm thấy từ bé như có người đi theo mình. Tôi đi vào rừng mà cứ có cảm giác có người dẫn đường, hoặc có người đi sau. Leo núi, vào hang, ngủ rừng, nhưng lúc nào cũng có cảm giác ấm áp, chứ không lạnh lẽo. Lúc nào hết tiền thì y rằng tiền lại đến”. Phan Thị Bích Hằng gật đầu bảo: “Người đi theo anh là tổ tiên, đang giúp đỡ anh, chứ không có thần thánh nào cả. Rồi anh sẽ gặp được tổ tiên mình. Người sẽ hóa thân thành xà tinh. Nếu gặp được người, mọi việc của anh đều hanh thông”.

Năm 2005, một năm sau ngày Bích Hằng về Tràng An, thì ông Son đã gặp thần xà. Đợt đó, ông Son trực tiếp đi thám hiểm, ghi chép lại các hang động, viết dự án, để giới thiệu sản phẩm du lịch. Hồi trẻ, ông thường vào hang Bói săn sơn dương. Hang đó có nhiều vỏ ốc, nghĩ có người xưa ở, nên đưa vào làm điểm tham quan sẽ thú vị. Ông Son cùng một nhóm đi vào hang Bói. Ở cửa hang có một tảng đá, khá giống cái ngai vàng. Ông Son dựng tóc gáy khi thấy trên tảng đá hình ngai ấy có 2 con rắn vắt vẻo. Một con màu đỏ, thân to, đầu có mào. Một con màu xanh, nhỏ hơn, nằm uốn khúc, gối đầu lên lưng con đỏ. Ông Son chợt nhớ lại lời các cụ kể, khi xưa khi các cụ ở Tràng An vào chỗ hang Bói khai thác gỗ sửa đền vua Đinh, đã từng gặp rắn có mào. Ông Từ Khấu, người phụ trách xẻ gỗ trong rừng, đã bắt gặp con rắn lạ này. Ông đặt chiếc mâm đồng, con rắn bò vào. Các cụ nghĩ thần về, nên đưa rắn mào vào hậu cung làm lễ cúng bái. Cúng xong, rắn biến mất, không ai nhìn thấy nữa. Các cụ ở Tràng An gọi là ông Lốt, có nghĩa là một vị quan đã đội lốt con rắn để giám sát công việc tâm linh.

Ông Son nghe chuyện rắn có mào nhiều, nhưng không tin. Khi đó, trước mắt mình là một con rắn có mào trên đầu thực sự, khiến ông dựng tóc gáy. Trấn tĩnh lại, ông Son chắp tay khấn: “Nếu ngài hiển ứng, thì để con quay lại hình ngài. Còn ngài không muốn, thì mời ngài trườn đi”. Khấn xong, chờ một lúc, không thấy con rắn bò đi, nên ông Son chạy về nhà lấy máy quay phim. Lúc ông gặp rắn là 10 giờ sáng, ông chạy về nhà làm lễ cúng bái, rồi quay lại lúc 4 giờ chiều. Điều kinh ngạc là cặp rắn vẫn nằm đó. Ông Son chắp tay xin được quay phim, rồi ông đứng từ xa zoom lại, quay rõ hình ảnh con rắn có mào, loài rắn tưởng như chỉ có trong huyền thoại. Quay xong, hai con rắn ngọ nguậy, rồi trườn lên núi và biến mất. Cặp rắn vừa trườn đi, ông Son lại nghe thấy tiếng rinh rích như gà con. Lần theo tiếng kêu lạ, ông Son phát hiện một con cua rất to, màu vàng, chưa từng thấy bao giờ. Ông nhấc cua lên ngắm nghía, nó vẫn phát ra tiếng kêu rinh rích. Nghĩ chuyện lạ, ông thả cua ra, rồi về. Về nhà, ông gọi nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vào. Bích Hằng bảo, cụ tổ đã hiển linh thành thần xà và cho gặp, như vậy, có nghĩa ủng hộ ông làm khu Tràng An.

Bộ xương trinh nữ

Sau khi dự án được lập, ông Nguyễn Văn Son cùng người em trai là đại gia Nguyễn Xuân Trường vào cuộc nạo vét sông ngòi, hang động, thung lũng để xây dựng Tràng An. Trước ngày tiến hành nạo vét, nhà ngoại cảm Bích Hằng đã về và nhiều lần nói rằng, nhìn thấy một người con gái. Người con gái này vào cung hầu hạ cô ruột vua Lê năm 14 tuổi. Năm 18 tuổi, cô hầu phổng phao, quá xinh đẹp, nên được tiến cử là quý phi nương nương, tức thiếp của vua Lê Đại Hành. Một hôm, trinh nữ này được đưa đi tắm nước thơm, được mặc đồ trắng, ăn cao lương, uống nước sâm. Mọi người tưởng trinh nữ này sẽ được gặp vua, nhưng không ngờ bị đánh thuốc mê, bị đem tế sống. Làm lễ tế xong, trinh nữ bị chôn vào hầm và 100 ngày sau thì chết. Oan hồn trinh nữ trấn giữ khu vực đó, khiến long mạch được yên. Theo lời Bích Hằng, trinh nữ này bị tế sống để đền cho oan hồn của người con gái bị triều Đinh yểm coi kho của. Vua Lê lên ngôi, đã cho người đào bới, hốt xương cốt, lấy kho của. Vì xâm phạm vào thần giữ của, tức oan hồn trinh nữ, nên nhà Lê biến loạn. Các thầy pháp đã lập đàn tế, bắt trinh nữ này đền mạng, trấn vào khu vực Tràng An, nơi mà thời Đinh và Lê coi là huyệt mạch quốc gia.

Lời nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng nói nửa thực nửa hư, toàn những chuyện ngàn năm trước, nên ông Nguyễn Văn Son nghe rồi để đấy. Thế nhưng, sự kiện kinh hãi đã xảy ra. Khi nạo vét lớp bùn ứ đọng trong một hang động ngay cạnh huyệt mạch sông Sào Khê, đã làm phát lộ một bộ xương còn khá nguyên vẹn. Bên thi hài có 3 sâu tiền cổ niên đại thế kỷ thứ 7 đến thứ 10, là tiền Tùy – Đường. Đầu bộ xương gối lên các tấm gỗ tiện tròn rất cầu kỳ. Các nhà khảo cổ đã về xem xét. Bộ răng còn nguyên vẹn, chưa mòn chứng tỏ đây là người trẻ. Các nhà khảo cổ đều khẳng định đây là người con gái, dáng cao, mảnh, rất đẹp, tuổi chỉ độ 17-18. Ông Son đã làm lễ chu đáo, an táng người thiếu nữ này ra nghĩa địa làng.

Gặp xương người là hỏng máy

Nạo vét xong hang động, thì việc nạo hút sông Sào Khê bắt đầu tiến hành. Dự án nhà nước về nạo vét sông đã có, nhưng chả biết bao giờ mới được giải ngân, nên đại gia Xuân Trường bỏ tiền làm trước. Có tới 150 chiếc máy hút bùn được huy động, rải dọc sông Sào Khê đoạn chảy qua Tràng An. Những chiếc máy này đều được mua mới tinh, do một doanh nghiệp cung cấp, bảo hành. Điều lạ lùng là, hàng loạt máy không nổ, hoặc đang hút bùn trơn tru bỗng nhiên tắt ngúm. Ông Son liên tục gọi doanh nghiệp cung ứng máy móc này xuống sửa chữa, mà chẳng ăn thua gì. Nhưng điều kỳ lạ, khi họ chở máy về nhà, máy lại hoạt động trơn tru, không có dấu hiệu hỏng hóc nào cả. Một lần, chiếc máy đang nổ bỗng tắt ngúm, ông sai công nhân nhảy xuống sông mò mẫm xem có vật gì lọt vào ống hút. Công nhân này xuống mò, nhấc lên chiếc đầu lâu. Anh này mò tiếp, thì vớt được nguyên bộ xương người. Từ bấy, ông Son rút kinh nghiệm, hễ máy đang nổ trơn tru, mà hỏng hóc bí hiểm, thì sai người xuống mò mẫm dưới lớp bùn, thể nào cũng kiếm được xương người. Theo ông Son, dưới dòng Sào Khê, chỗ nào có xương người, y rằng đã bị trấn yểm. Những vị trí đó rất linh thiêng, nên diễn ra hiện tượng kỳ quái, thậm chí hỏng cả máy móc.

Điều kinh dị nhất xảy đến với chiếc tàu hút bùn, mà doanh nghiệp Xuân Trường nhập từ Phần Lan. Ông Trường nhập liền lúc 2 cái. Một cái làm ở Bái Đính, một cái làm ở Tràng An. Đây là con tàu rất đắt tiền, cực kỳ hiện đại, hoạt động bằng điện tử. Con tàu cuốc tơi bùn đất, dị vật, rồi hút bùn thổi đi nơi khác. Thế nhưng, tàu đang chạy lừ lừ dưới lòng Sào Khê, còn cách hang Luồn mấy trăm mét, thì tự dưng chết đứng. Ông Son đã chỉ đạo đám thợ kiểm tra lớp bùn đất phía đầu con tàu hút bùn này, nhưng không thấy có nghi vấn gì. Thợ chuyên nghiệp dưới cảng Hải Phòng được điều lên, nhưng sửa mấy tháng máy vẫn không nổ. Chiếc tàu rất lớn, lại nằm ở dưới sông, nên đem lên không phải chuyện đơn giản. Sửa chữa mãi không được, ông Son đưa ra phương án tháo máy ở con tàu nạo vét sông Sào Khê, đổi máy con tàu ở Bái Đính. Điều kỳ cục đã xảy ra, đó là khi chuyển máy trên con tàu ở Tràng An lên Bái Đính, thì máy lại nổ ngon lành, còn lắp máy ở tàu nạo vét trên Bái Đính, thì máy lại hỏng. Sau mấy tháng hì hục sửa chữa, thợ lành nghề dưới Hải Phòng chào thua, bỏ về. Doanh nghiệp Xuân Trường đã liên lạc sang Phần Lan. Một kỹ sư chế tạo rất giỏi được điều sang Việt Nam làm nhiệm vụ sửa chữa con tàu này. Ông Son nhớ lại: “Tay kỹ sư người Phần Lan này sang, nhìn con tàu nhem nhuốc, hắn quát tháo ầm ĩ. Hắn bảo, con tàu cả triệu đô, mà bôi bẩn bùn đất thế này thì không chấp nhận được. Hắn bắt lau bóng loáng cả sàn tàu. Lau rửa sạch sẽ con tàu, hắn bắt đầu chỉ trỏ, sai khiến thợ tháo chỗ nọ, lắp chỗ kia. Tuy nhiên, thợ sửa tàu làm việc hì hục cả tuần, máy vẫn không nổ, các thiết bị điện tử không hoạt động, con tàu triệu đô như một đống sắt vụn. Cuối cùng, tay kỹ sư này phải cởi bỏ comple, tự tháo lắp, sửa chữa. Tuy nhiên, lại mất một tuần nữa con tàu không chịu nổ. Tay kỹ sư này đã sai nhóm thợ chuyển máy ở con tàu làm việc trên chùa Bái Đính về. Máy đưa ở Bái Đính về vẫn không hoạt động, còn máy hỏng ở Tràng An chuyển đi lại hoạt động ngon lành. Kiểm tra hệ thống điện tử trên tàu thì không phát hiện lỗi. Kỹ sư người Phần Lan lắc đầu không hiểu nổi, định bỏ về nước, thì tôi vào cuộc”.

Hôm đó là tháng 7, trời mưa sụt sùi, ông Son sai người làm mấy mâm lễ lớn, vừa cúng bái vừa khao chúng sinh ngay trên sàn con tàu hút bùn. Kỹ sư người Phần Lan nhìn cảnh ấy rất coi thường. Anh ta chỉ tin vào kỹ thuật, chứ không tin vào những chuyện siêu nhiên. Thế nhưng, điều lạ lùng đã xảy ra, ông Son vừa cúng xong, đã nghe thấy máy nổ, tàu rung bần bật. Chứng kiến cảnh ấy, kỹ sư người Phần Lan trố mắt kinh ngạc, không hiểu vì sao. Mấy công nhân thì cứ vái sống ông Son, nghĩ ông là thần thánh nhập vào.

Tuy nhiên, con tàu hút bùn làm việc nửa buổi, tiến được độ chục mét dưới lòng sông lại tắt ngúm. Sửa chữa không được, ông Son lại được triệu đến. Ông Son khẳng định rằng, dưới lòng sông chắc chắn có điều đặc biệt. Việc con tàu hiện đại hỏng máy có thể là lời cảnh báo nào đó. Ông Son yêu cầu phải dừng lại mọi công việc, tiến hành đắp bờ, tát nước, móc từng nắm bùn đoạn sông Sào Khê để tìm kiếm thông tin. Hàng ngàn cây tre, thanh gỗ được đóng xuống lòng sông, bao cát quăng xuống đắp bờ tát nước. Sau một tuần vừa nạo vét thủ công, vừa bới bùn tìm di vật, thì chiếc đầu lâu xuất hiện, nằm ngay dưới mũi tàu hút bùn, ở độ sâu tới 3 mét tính từ đáy sông. Ông Son tin rằng, đây chính là nguyên do khiến con tàu hút bùn bị hỏng một cách bí ẩn. Ông đã dự đoán được sự việc, nhưng đám thợ đào không sâu, tìm kiếm không kỹ, nên không thấy xương cốt. Đúng như tiên đoán của ông, khi đưa hộp sọ lên bờ, làm lễ an táng chu đáo, thì con tàu hút bùn hiện đại lại hoạt động.

Hộp sọ của vị tướng?

Có lẽ, do nằm rất sâu dưới lòng đất, trong tình trạng yếm khí, vi khuẩn không hoạt động được, nên hộp sọ được bảo quản rất tốt, còn rất nguyên vẹn. Một số nhà khảo cổ, nhân chủng học tìm về và khẳng định hộp sọ to, đẹp, cân đối, thể hiện đây là một người thông minh, khỏe mạnh, thậm chí là một vị tướng. Điều lạ lùng là lại chỉ phát hiện hộp sọ dưới lòng sông, còn xương cốt bộ phận khác lại không có. Ông Son đã huy động mấy chục công nhân, mở rộng diện đào bới, tuy nhiên, tìm kiếm suốt một tuần không thấy thêm mẩu xương nào. Tin rằng, chiếc đầu lâu này của vị tướng, nên ông Son sai người an táng rất chu đáo. Khi đó, một đội chuyên phục vụ án táng, di chuyển hài cốt được thành lập. Theo lời ông Son, họ mua tiểu sành, vải liệm màu đỏ. Đích thân ông đã cúng cho oan hồn này. Cúng xong, đội an táng đưa ra nghĩa địa chôn ở vị trí đã chọn sẵn.

Sự việc tìm thấy chiếc đầu lâu một cách bí ẩn rồi cũng chìm vào quên lãng, bởi tiếp sau đó, mấy chục bộ hài cốt được phát hiện, vô số điều kỳ bí liên tục ập đến khiến ông Son tất tả ngược xuôi, bù cả đầu óc. Cho đến một ngày, cách đây 2 năm, có người gọi điện thoại, xưng là Nguyễn Văn Ngô, quê mãi Bình Định. Ông này bảo rằng, thầy bói nói với ông đã đã tìm thấy đầu cụ Nguyễn Bặc ở Tràng An. Ông này hỏi ông Son có tìm thấy đầu lâu tướng quân Nguyễn Bặc (Định quốc công Nguyễn Bặc, coi việc Nội Giáp, tức là việc nội chính của triều Đinh) không? Thời gian đó, đội nạo vét sông Sào Khê và khu vực Tràng An đào lên vô số hài cốt, nên ông Son lắc đầu kêu không biết, không có chuyện đó. Rồi sự việc lại rơi vào quên lãng. Cho đến một ngày, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng gọi điện cho ông Son bảo rằng, chị mới vào chùa Trấn Quốc và nhận được thông tin rằng, tướng quân Nguyễn Bặc đã bị nhà Lê chặt đầu, bêu đầu rồi vứt xuống sông. Phần thân con cháu đã đem về chôn cất, lập mộ. Riêng phần đầu thì thất lạc ngàn năm nay. Hiện đã có người tìm thấy phần sọ. Bích Hằng đề nghị ông Son tìm hiểu xem có ai ở Tràng An đào được đầu lâu không. Ông Son chột dạ, nhớ lại chiếc đầu lâu khiến tàu hút bùn chết máy một cách bí ẩn suốt mấy tháng. Tuy nhiên, quá trình hút bùn sông Sào Khê, cải tạo khu Tràng An, thu được rất nhiều xương cốt, nên không biết cái nào. Ông Son gặp đội quy tập dò hỏi và được ông Thám, là đội trưởng đội quy tập hài cốt khẳng định, cả trăm bộ xương được quy tập đều đầy đủ, duy chỉ có 1 chiếc đầu lâu.

Hôm đó, ông Thắm, ông Son, cùng con cháu dòng họ cụ Nguyễn Bặc có mặt ở nghĩa địa thôn Tràng An. Vì chôn nhiều mộ quá, nên ông Thắm không nhớ là ngôi nào. Ông Thắm đào 8 ngôi, đều gặp những mộ đầy đủ xương cốt, khiến mọi người sợ hãi, dựng cả tóc gáy. Ông Son bảo ông Thắm dừng lại, kẻo đào tung cả nghĩa địa cũng không được. Ông Son phát cỏ, chặt mấy cây tre ngả vào khu mộ, rồi thắp hương khấn vái. Thắp hương xong, như có linh tính, ông chỉ ngôi mộ thứ 3 ở hàng đầu tiên, sát bụi tre. Không ngờ, đào lên đúng luôn. Trong tiểu chỉ có một chiếc đầu lâu, bọc vải đỏ, còn rất nguyên vẹn. Tin rằng đây là đầu lâu của tướng Nguyễn Bặc, ông Son đưa cốt lên núi xây mộ, rồi dựng đền thờ.

Chung cư ma Thuận Kiều Plaza

Detail
Gần hai chục năm qua, những đồn thổi đầy ma mị về sự thất bại của khu cao ốc liên hợp gia cư và thương mại Thuận Kiều (Thuận Kiều Plaza) cứ chồng chất theo thời gian.

Những câu chuyện về oan hồn, quỷ ám và cả sự đồn thổi về phong thủy, bùa ngải nhằm lý giải cho sự thất bại của tòa nhà đã thu hút sự hiếu kỳ của không ít người. Vậy đâu là sự thật?

Kỳ bí nhất trong số này là hồi ức của một nhân viên văn phòng tên T. làm việc cho công ty Hàn Quốc thuê trụ sở tại tầng 30.

Khoảng năm 2009 - 2010, lần đầu tiên T. gặp chuyện lạ là vào một buổi tối, công ty xảy ra sự cố và T. phải ở lại giải quyết tới 20 giờ. Sau khi định tắt máy ra về thì T. bỗng nghe tiếng nước chảy tại phòng bên cạnh. Cứ nghĩ là có người còn ở lại, T. cất tiếng hỏi.

Không nghe trả lời, trong khi nước vẫn chảy rào rào. T. thận trọng tiến về phía bếp và bật công tắc đèn, không có ai trong đó. Rảo mắt về phía phòng tắm, cửa đóng im lìm, đèn sáng. T. nghe tiếng nước chảy nên từ từ tiến lại hỏi tiếp thì có tiếng “ừ” khe khẽ. T. nghĩ trong đầu “thì ra là bà Yến đang tắm” thì nhận được điện thoại của người đồng nghiệp khác cho biết đang ngồi chung với chị Yến.

Nghe đến đây T. dựng tóc gáy, vội vàng vơ cái thẻ nhân viên lao ra cửa chính. Lúc này tiếng nước ngừng chảy và vang lên âm thanh tắt điện nhà tắm. Bên cạnh câu chuyện đầy tính chất ma mị của T., còn có hàng chục câu chuyện ly kỳ khác liên quan đến tòa nhà này, mà người nghe xong dễ nổi da gà.

Có tin đồn cho rằng việc chủ đầu tư công ty Kings Harmony International Ltd là người Hồng Kông đã bỏ tiền ra xây dựng tòa nhà không vì mục đích kinh doanh, mà để trấn trạch cho vượng khí của khu Chợ Lớn (quận 5) không bị thoát ra ngoài. Cũng có người phán thoạt nhìn từ xa tòa nhà giống hình ba cây nhang, là cách ấn trạch để một mặt tà khí không thể xâm nhập, mặt khác có tác dụng giữ được mạch khí cho khu vực...



Tin đồn khác lại dẫn lời một người ở quận 5 nói rằng đã có đoàn phong thủy giỏi từ Trung Quốc sang TP HCM giải mã cho tòa nhà và kết luận rằng nơi này phạm phong thủy do nó giống như con tàu ba buồm nhưng phần cột quá to, trong khi thân tàu quá nhỏ nên mất cân đối, dễ đắm.

Đường Đỗ Ngọc Thạnh xẻ dọc khu B và khu C không khác gì đục một lỗ thủng vào “con thuyền” Thuận Kiều Plaza, khiến nó bị đắm trong thời gian rất ngắn.

Cũng có trường hợp lý giải đường Đỗ Ngọc Thạnh giống như cửa đại môn của cả tòa nhà, nhưng do xuyên suốt từ trước ra sau khiến cửa chính đối thẳng với cửa hậu, vượng khí vào rồi ra quá nhanh khiến cơ hội đến rồi tuột khỏi tầm tay trong thoảng chốc.

Bên cạnh đó, cũng có lời đồn cho rằng trong quá trình xây dựng, giữa chủ đầu tư và nhà thầu đã xảy ra mâu thuẫn. Nhà thầu đã sử dụng bùa Lỗ Ban (được xem là ông tổ của nghề mộc và nghề xây dựng, người Trung Quốc) ếm vào chân móng của tòa nhà khiến nó lụn bại.
Tags: no keyword